Ôn Văn lớp 12 phần đọc, hiểu: Tổng hợp các kiến thức...

Ôn Văn lớp 12 phần đọc, hiểu: Tổng hợp các kiến thức thi THPT Quốc gia

446
SHARE

Những kiến thức tổng hợp dưới đây sẽ giúp học sinh lớp 12 có thể dễ dàng hệ thống lại các kiến thức phần đọc, hiểu văn bản.

Từ năm 2014, phần đọc hiểu văn bản chính thức được đưa vào là một nội dung chiếm 3 điểm trong đề thi THPT Quốc gia môn Văn. Điều này xuất phát từ thực tế việc sử dụng đúng tiếng Việt trong văn bản cũng như giao tiếp hiện nay của giới trẻ còn nhiều bất cập, thậm chí viết ra nhưng không hiểu mình viết gì, khiến người nghe hiểu sai nghĩa. Do đó, phần đọc hiểu văn bản sẽ củng cố những ngữ pháp tiếng Việt cho học sinh trước khi bước vào môi trường đại học – nơi tự do thể hiện ngôn ngữ cá nhân của mình trong việc học và giao tiếp xã hội.


Trong cấu trúc đề thi THPT Quốc gia môn Văn, phần Đọc – Hiểu là phần xuất hiện đầu tiên, với những câu hỏi liên quan đến  những nội dung quan trọng sau: nhận diện các phương thức biểu đạt; nhận diện các phong cách ngôn ngữ; nhận diện, nêu tác dụng, hiệu quả nghệ thuật của các phương tiện ngôn ngữ; biện pháp tu từ; phương châm hội thoại,… Những kiến thức phần đọc hiểu có thể khiến rất nhiều học sinh khó học, khó hiểu và khó nhớ. Nhưng các bạn buộc phải học và nhuần nhuyễn phần này, bởi nó chiếm tối đa đến 3 điểm của đề thi.


1. Ôn thi Ngữ Văn lớp 12 phần đọc, hiểu: Các thao tác lập luận trong văn nghị luận


Các thao tác lập luận trong văn nghị luận là phần nội dung quan trọng và được đánh giá là khá khó nhằn đối với các thí sinh. Do đó, các bạn cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về kiến thức phần này.


on-van-lop-12-phan-doc-hieu-cac-thao-tac-lap-luan-trong-van-nghi-luan

Các thao tác lập luận chính trong văn bản nghị luận.

Ví dụ minh hoạ


– Giải thích: “Cái đẹp vừa ý là xinh, là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng, thanh nhã, ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo, vừa xinh, phải khoảng. Giao tiếp, ứng xử chuộng hợp tình, hợp lí, áo quần, trang sức, món ăn đều không chuộng sự cầu kì. Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng, thanh lịch, duyên dáng và có quy mô vừa phải”. ( Trích Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu)

 Chứng minh: “Người chân chính là người có nhiều phẩm chất: yêu quê hương đất nước, đồng bào, …có kiến nước, bào, …có thức có nghề nghiệp có ích cho xã hội, biết lao động hội, mưu cầu hạnh phúc.Và sự đồng cảm là yêu cầu sơ đẳng và cơ bản của đạo làm người.”

 Phân tích: “… Nói tới sách là nói tới trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà hàng bao thế hệ tích lũy truyền lại cho mai sau. Sách đưa đến cho người đọc những hiểu biết mới mẻ về thế giới xung quanh, về vũ trụ bao la, về những đất nước và những dân tộc xa xôi.            

Những quyển sách khoa học có thể giúp người đọc khám phá ra vũ trụ vô tận với những qui luật của nó, hiểu được trái đất tròn trên mình nó có bao nhiêu đất nước  khác nhau với những thiên nhiên khác nhau. Những quyển sách xã hội lại giúp ta hiểu biết về đời sống con người trên các phần đất khác nhau đó với những đặc điểm về kinh tế, lịch sử, văn hóa, những truyền thống, những khát vọng.  

Sách, đặc biệt là những cuốn sách văn học giúp ta hiểu biết về đời sống bên trong tâm hồn của con người, qua các thời kì khác nhau, những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và đau khổ, những khát vọng và đấu tranh của họ. Sách còn giúp người đọc phát hiện ra chính mình, hiểu rõ mình là ai giữa vũ trụ bao la này, hiểu mỗi người có mối quan hệ như thế nào với người khác, với tất cả mọi người trong cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc, đâu là nỗi khổ của con người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.”   ( Bàn về việc đọc sách)

– Bình luận: “Cần thấy được sức mạnh của tri thức trong mọi Cần thấy được sức mạnh của tri thức trong mọi lĩnh vực của cuộc sống kinh tế, quân sự, khoa học…Cũng cần nói thêm muốn có tri thức thì phải học, phát triển giáo dục không riêng bản thân ta mà mọi người, mọi dân tộc, mọi đất nước, cũng cần ý thức tầm quan trọng của nó mà đầu tư cho phù hợp. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho tri thức, đó là một sự đầu tư đầy ý nghĩa và mang tính sống còn của mỗi quốc gia, nhìn vào đất nước nhỏ bé Singapo là thấy rõ nhất..…”

– So sánh: “Các cụ ưa màu đỏ choét, ta lại ưa màu xanh Các cụ ưa màu đỏ choét, ta lại ưa màu xanh nhạt.Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn các cô gái xinh xắn ngây thơ các cụ coi  như là làm một việc tội lỗi, ta thì xem như đang đứng trước một cách đồng xanh. Cái tình đang đứng trước một cách đồng xanh. Cái tình của các cụ chỉ là hôn nhân, còn cái tình của chúng ta thì muôn hình vạn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái đắm, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”

 Bác bỏ:  “Nhiều bạn trẻ ngộ nhận rằng, hai người có nhiều điểm tương đồng trong suy nghĩ, cách sống thì cuộc sống vợ chồng sẽ rất hợp nhau. Vì vậy khi chọn người yêu hoặc bạn đời, các đừng chỉ nhìn vào biểu hiện bên ngoài mà đã vội cho rằng đấy chính là người hợp “gu” với mình. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm. Bởi lẽ nếu hai bạn cùng có chung quan niệm sống, cá tính mạmh mẽ thì thường nảy sinh mâu thuẫn, sẽ không ai chịu nhường ai cả. Bạn có thể cùng sở thích về văn học, điện ảnh ca nhạc, vui chơi, giải trí – ấy là điều tốt nhưng nếu hai người cùng đều có ý muốn an nhàn, hưởng thụ, ích kỉ thì e rằng tổ ấm của bạn sẽ chẳng có ai “giữ lửa” cho hạnh phúc cả”.


2. Ôn Văn lớp 12 phần đọc, hiểu: Phong cách, chức năng ngôn ngữ


Phong cách và chức năng ngôn ngữ là phần nội dung quan trọng, thường xuyên xuất hiện trong các đề thi môn Văn. Học sinh lớp 12 cần phải tập trung ôn thi để nắm chắc kiến thức phần này.


on-van-lop-12-phan-doc-hieu-phong-cach-chuc-nang-ngon-ngu-1

Sơ đồ tư duy các phong cách và chức năng ngôn ngữ

– Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:

Ví dụ: 





“Anh Mịch nhăn nhó nói:

– Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông Nghị, kẻo ông ấy đánh chết.          

Ông Lí cau mặt, lắc đầu, giơ roi song to bằng ngón chân cái lên trời, dậm dọa:          

– Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi.                

– Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy, ông mà bắt con đi, thì ông Nghị ghét con, cả nhà con khổ.                   

– Thì mày hẹn làm ngày khác với ông ấy, không được à?               

– Ðối với ông Nghị, con là chỗ đầy tớ, con sợ lắm. Con không dám nói sai lời, vì là chỗ con nhờ vả quanh năm. Nếu không, vợ con con chết đói.               

– Chết đói hay chết no, tao đây không biết, nhưng giấy quan đã sức, tao cứ phép tao làm. Ðứa nào không tuân, để quan gắt, tao trình thì rũ tù”.

                                                                                                                                         (Nguyễn Công Hoan)

– Phong cách ngôn ngữ khoa học: 

Ví dụ: “Cái mô hình ngữ pháp miêu tả mà N. Chomsky thừa nhận là có tính khách quan và chặt chẽ nhất là mô hình ICs  ( với lối phân tích lưỡng phân liên tục, từ S (tức Sentence đến NP, VP ( tức noun phrase, verb phrase) rồi đến những thành tố trực tiếp khác trong lòng chúng cho đến hình vị cuối cùng), nhưng áp dụng nó vào việc tạo sinh câu thì vẫn có thể tạo ra những câu kỳ quặc kiểu như The colorless green ideas sleep furiously”.

(Những tư tưởng không màu màu xanh lục ngủ một cách giận dữ)!





on-van-lop-12-phan-doc-hieu-phong-cach-chuc-nang-ngon-ngu-2

Những đặc trưng của từng loại ngôn ngữ tạo nên những nét riêng, thí sinh khi làm bài cần phân biệt được sự khác nhau này.


-Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:

Ví dụ:

-Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc?

Khi lòng ta đã hoá những con tàu,

Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát

Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu?                                                

                                 ( Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên)


– Phong cách ngôn ngữ hành chính:

Ví dụ:

                                                      “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

                                                           Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                     …….o0o…….  

                                                             ĐƠN ỨNG TUYỂN

Kính gửi: ………………………………………………………………………………………

Tên tôi là:……………………………………………………………………………………….

Sinh năm :……………………………………………………………………………………………

Địa chỉ :…………………………………………………………………………………………

Theo thông tin tuyển dụng của Quý công ty trên Careerlink.vn, tôi viết đơn này để ứng tuyển vào vị trí Kỹ sư cơ khí mà Quý công ty đang có nhu cầu

Tôi tốt nghiệp trường ĐH ABC chuyên ngành Kỹ sư cơ khí chế tạo máy. Sau khi tốt nghiệp tôi làm việc cho công ty cung cấp các thiết bị an toàn sử dụng cho ngành dầu khí, sản xuất sơn, xăng dầu, khai khoáng. Ở vị trí này tôi có kinh nghiệm trong việc làm việc với khách hàng để nắm bắt yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm, sử dụng các chương trình chuyên ngành vẽ thiết kế cơ khí , triển khai sản xuất theo yêu cầu. Do đó tôi khá thông thạo phần mềm thiết kế 2D, 3D: Autocad, Catia, Pro/E…

Ngoài ra tôi còn có thể sử dụng tiếng Anh khá, đặc biệt có thể biên dịch các tài liệu chuyên ngành, có khả năng làm việc độc lập, làm việc nhóm. Tôi cũng sẵn sàng đi công tác xa và làm thêm giờ theo yêu cầu của công việc.

Tôi tin rằng với kỹ năng và kinh nghiệm như trên tôi có thể hoàn thành các nhiệm vụ mà Quý công ty giao phó. Tôi hy vọng có cơ hội đóng góp công sức vào sự phát triển của Quý công ty. Nếu cần thêm thông tin hoặc cần trao đổi vấn đề gì, xin vui lòng liên lạc số điện thoại: …             

Xin chân thành cảm ơn và trân trọng kính chào!

                                                                                                                 Hồ Chí Minh, ngày ….. tháng ….. năm 201…..

                                                                                                                                     Người làm đơn”


– Phong cách ngôn ngữ báo chí:

Ví dụ:


“Sáng nay 15.10, PV Thanh Niên đã theo đoàn kiểm tra của lãnh đạo tỉnh Quảng Bình vào rốn lũ Phong Nha. Theo ghi nhận của chúng tôi, khu vực này bị ngập rất sâu, nhiều nơi lên đến 3 m.

Nặng nhất ở trung tâm Phong Nha, nơi có trụ sở Trung tâm du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng và chợ Phong Nha, tất cả chìm sâu trong nước lũ. Ngay sau khi xảy ra mưa lũ, lực lượng chức năng như Phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình, quân sự đã có mặt để điều tiết giao thông, tránh những nguy hiểm cho du khách.”

– Phong cách ngôn ngữ chính luận:

Ví dụ:

“Ai dám bảo cuộc Cách mạng tháng Tám của ta là cuộc đảo chính? Ðảo chính là hai bọn thống trị trong nước hất cẳng nhau. Bọn này quật đổ bọn kia để lập chính phủ mới, nhưng căn bản chế độ cũ vẫn để nguyên. Ðằng này nhân dân bị áp bức nổi dậy tự giải phóng giành chính quyền, sao gọi là đảo chính?” 


3. Ôn Văn lớp 12 phần đọc, hiểu: Các phương thức biểu đạt trong văn bản

Các phương thức biểu đạt trong văn bản là nội dung thường xuyên xuất hiện nhất trong câu hỏi phần đọc, hiểu văn bản của đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn.

on-ngu-van-lop-12-phan-doc-hieu-phuong-thuc-bieu-dat-trong-van-ban

Những phương thức biểu đạt các sỹ tử cần phải nhớ trong chương trình Ngữ văn lớp 12.

Có 6 phương thức biểu đạt chính là: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, hành chính – công vụ.


Trong mỗi văn bản thường sử dụng kết hợp nhiều phương thức biểu đạt. Nhưng các phương thức này trong một văn bản sẽ đóng vai trò và vị trí khá nhau, không ngang bằng nhau, có chính có phụ. Vì vậy, các thí sinh cần tỉnh táo để xác định được đâu là phương thức biểu đạt chủ đạo của đoạn văn mà đề bài đưa ra.

Có 6 phương thức biểu đạt, cụ thể như sau:

– Phương thức tự sự: sử dụng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng tạo thành một kết thúc. Phương thức tự sự còn được dùng để khắc họa tính cách nhân vật, từ đó đưa ra những nhận thức sâu sắc, mwois lạ về bản chất cong người và cuộc sống.

– Phương thức miêu tả: là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm của con người.  

– Phương thức biểu cảm: được dùng khi nhân vật có nhu cầu muốn bộc lộ thái độ, cảm xúc của mình trước một sự vật, sự việc, hiện tượng trong đời sống. Ngôn ngữ giàu tính biểu cảm là đặc trưng của phương thức biểu đạt này.

 Phương thức thuyết minh: là cung cấp, giới thiệu, giảng giải,,…những tri thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết.

– Phương thức nghị luận là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt,  thuyết phục người khác đồng tình với ý kiến của mình. – Phương thức hành chính

– công vụ là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác trên cơ sở pháp lí [thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…] 

4.Ôn Văn lớp 12 phần đọc hiểu: Các biện pháp tu từ


Các biện pháp tu từ mới này sẽ bổ sung thêm vào những kiến thức cơ bản về biện pháp tu từ bạn đã được học ở chương trình Ngữ Văn các lớp dưới. 

on-van-lop-12-phan-doc-hieu-cac-bien-phap-tu-tu1


Phép lặp cú pháp

“Lom khom dưới núi: tiều vài chú


 Lác đác bên sông: chợ mấy nhà”                                            

                                      [Qua Đèo Ngang – Bà huyện Thanh Quan]

“Quan thấp thì ta thăng tước; lộc ít thì ta cấp lương. Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa”.

                                                                                                   [Hịch tướng sỹ – Trần Quốc Tuấn]


Phép liệt kê

“Tre, nứa, trúc, mai, vầu mấy chục loại khác nhau nhưng cùng một mầm non măng mọc thẳng”

                                                                                                                     (Tre Việt Nam)





- Phép chêm xem: Là chêm vào câu một cụm từ không trực tiếp có quan hệ đến quan hệ ngữ pháp trong câu, nhưng có tác dụng rõ rệt để bổ sung thông tin cần thiết hay bộc lộ cảm xúc. Thường đứng sau dấu  gạch nối hoặc trong ngoặc đơn.

                                      “Cô bé nhà bên (có ai ngờ)                                      

                                        Cũng vào du kích!                                       

                                        Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích                                       

                                        Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)”

                                                                                                  [Quê hương – Giang Nam]




- Phép điệp âm, điệp vần, điệp thanh: Điệp là sự lặp lại một yếu tố diễn đạt (ngữ âm, từ, câu) để nhấn mạnh ý nghĩa và cảm xúc, nâng cao khả năng biểu cảm, gợi hình cho lời văn.

                      “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,

              Giật mình mình lại thương mình xót xa.

                        Khi sao phong gấm rủ là,

              Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.

                        Mặt sao dày gió dạn sương,

              Thân sao bướm chán ong chường bấy thân.

                        Vui là vui gượng kẻo là,

              Ai tri âm đó mặn mà với ai.”

                                                          (Truyện Kiều – Nguyễn Du)





- Phép đối: Là cách sử dụng những từ ngữ, hình ảnh, các thành phần câu, vế câu song song, cân đối trong lời nói nhằm tạo hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh về ý , gợi liên tưởng, gợi hình ảnh sinh động, tạo nhịp điệu cho lời nói, biểu đạt cảm xúc tư tưởng…

                 “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt,

              Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng”.

                                                           (Tú Xương)





- Đảo ngữ : Đảo ngữ là sự thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông thường của câu, nhằm nhấn mạnh và làm nổi bật ý cần diễn đạt

                   “Chất trong vị ngọt mùi hương

           Lặng thầm thay những con đường ong bay”.

                                                            (Nguyễn Đức Mậu)

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY